Ý nghĩa của các bức tranh cổ

Mỗi bức tranh chúng ta ngắm, điều đầu tiên chúng ta quan tâm là “đẹp hay không”. Tuy nhiên điều nữa cần quan tâm là ý nghĩa và giá trị của nó là gì.

Để xét về ý nghĩa, thì thường chọn các loại tranh có tính ước lệ (có quy chuẩn, không đa nghĩa và khó hiểu như loại hình tranh hiện đại). Đó là các bức tranh cổ về  động vật, phong cảnh, hội họa truyền thống (hoa lá, chim cá, rồng, ngựa, vượn, tùng hạc, sơn thuỷ núi non, …). Đối với loại tranh này, cái chủ đề với ý nghĩa biểu tượng quan trọng hơn phong cách hay kỹ thuật thể hiện.

Có hai điểm nổi bật của loại tranh này. Thứ nhất, trong cuộc sống người ta thường gán cho một sự vật nào đó một ý nghĩa biểu tượng. Thí dụ: trúc là quân tử, mai là giai nhân, cây tùng và chim hạc ngụ ý trường thọ (tùng hạc diên niên 松鶴延年), v.v… Hoạ sĩ chỉ việc thể hiện nó bằng kỹ pháp riêng của mình. Đặc điểm thứ hai là thông qua ngôn ngữ (nhất là từ ngữ đồng âm hay cận âm) người ta sẽ liên tưởng hình vẽ này đến một sự vật nào đó với ý nghĩa biểu tượng nhất định trong tâm thức chung của mọi người. Thí dụ bức tranh vẽ con cá. Chữ Hán ngư (cá) đồng âm [yú] (âm Bắc Kinh) với chữ (dư thừa, dư dật). Qua ý nghĩa biểu tượng này là niềm ao ước một cuộc sống dư dật, khá giả. Nếu vẽ 9 con cá, thì ước nguyện này càng mạnh mẽ. Chữ Hán cửu (số 9) đồng âm [jiǔ] với chữ cửu (lâu dài, trường cửu). Cửu ngư 九魚 (9 con cá) phát âm [jiǔ yú] giống như cửu dư 久餘 (dư dật lâu dài), ngụ ý một ước mong được sống khá giả mãi. Điều này cũng giống như người Việt Nam sắp đặt dĩa trái cây chưng tết gồm mãng cầu, dừa xiêm, đu đủ, xoài với ước nguyện khiêm tốn «cầu vừa đủ xài» trong tiết xuân sang; bởi vì người Việt ở Nam Bộ phát âm «dừa» giống như «vừa», «xoài» giống như «xài». (Thật ra mong ước đó không khiêm tốn đâu, bởi vì ở đời biết thế nào mới là đủ). Tất nhiên sự so sánh này chỉ nhắm vào khía cạnh ngôn ngữ, không xét tới hình thức thể hiện.

Tranh của Đường Dần (đời Minh)

Sau đây chúng ta thử tìm ra một số hình ảnh biểu tượng trong hội hoạ Trung Quốc. Trước tiên, khi nói đến tranh thuỷ mặc 水墨 (thường bị đọc nhầm là thuỷ mạc) thì chúng ta thường liên tưởng ngay đến tranh sơn thủy. Đây là một mảng đề tài đặc sắc trong hội hoạ Trung Quốc. Hai chữ sơn thuỷ có ý nghĩa triết lý thâm trầm của chúng, không chỉ đơn thuần sơn là núi non, thuỷ là sông nước.  

Khổng Tử từng nói rằng: «Kẻ trí vui chơi nơi sông nước, kẻ nhân vui chơi nơi núi non. Kẻ trí hiếu động, kẻ nhân trầm tĩnh. Kẻ trí vui vẻ, kẻ nhân trường thọ.» ()者樂水, 仁者樂山, ()者動, 仁者靜, ()者樂, 仁者壽 (Trí giả nhạo thuỷ, nhân giả nhạo sơn, trí giả động, nhân giả tĩnh, trí giả lạc, nhân giả thọ.– Luận Ngữ – Ung Dã).

Sông nước trôi chảy, linh động biến dịch không ngừng, tìm về trùng dương mênh mông. Sự trôi chảy không ngừng này tượng trưng bản thể của Đạo. Khổng Tử có lần đứng trên bờ sông, nhìn nước chảy, giác ngộ lý lẽ ấy, nên ngài tán thán: «Ôi, trôi chảy thế này, ngày đêm nó không hề ngừng nghỉ !» 逝者如斯夫不舍晝夜 (Thệ giả như tư phù, bất xả trú dạ ! – Luận Ngữ – Tử Hãn).

Do đó, kẻ trí tuệ thấu đạt lý lẽ của sự vật, linh hoạt tiến triển mãi không ngưng trệ, cũng linh động như bản tính của nước. Kẻ nhân ái yên ổn với nghĩa lý mà dày dặn kiên cố vững bền, cũng tĩnh như bản tính của núi. Động và tĩnh nói về bản thể, mà vui vẻ trường thọ là nói về hiệu quả đạt được.

Người nhân ái và trí tuệ xưa nay hiếm. Trong cõi trần ai, ngay bản thân kẻ nhân và trí cũng không biết tìm đâu ra bạn tri âm tri kỷ. Không biết tìm đâu, nên mượn tranh sơn thuỷ để ký thác tâm tình, gởi gấm nỗi niềm. Nhưng triết lý của sơn thuỷ có lẽ là do giới thưởng ngoạn đời sau gán cho. Thuở xa xưa, chắc gì các hoạ gia đã nghĩ như thế.

 Chủ đề nổi bật thứ hai là hoa điểu 花鳥 (hoa và chim chóc). Về hoa, các văn nhân Trung Quốc thường gán cho từng loại hoa một đức tính, một ý nghĩa tượng trưng văn học nào đó, và các họa sĩ đã tiếp thu toàn bộ những quan niệm này. Chẳng hạn Chu Đôn Di 周惇頤 đời Tống từng nói: «Trong các loài hoa, cúc là kẻ ẩn dật, mẫu đơn là kẻ phú quý và sen là bậc quân tử vậy.» 菊花之隱逸者也牡丹花之富貴者也蓮花之君子者也 (Cúc, hoa chi ẩn dật giả dã; mẫu đơn, hoa chi phú quý giả dã; liên, hoa chi quân tử giả dã).

Quan niệm cúc là kẻ ẩn dật có lẽ phát xuất từ Đào Tiềm 陶潛 tức Đào Uyên Minh 陶淵明 đời Tấn, một thi sĩ vĩ đại, chán cảnh làm quan luồn cúi, treo áo từ quan, hưởng thú điền viên, vui cảnh nghèo, thích uống rượu chơi cúc và nhàn du. Người đời khen ông là bậc ẩn dật cao khiết. Trong bài Ẩm Tửu 飲酒 của ông có nhắc đến hoa cúc: «Hái cúc dưới giậu đông, thơ thới nhìn núi Nam.» 採菊東籬下悠然見南山 (Thái cúc đông ly hạ, du nhiên kiến Nam Sơn). Người ẩn sĩ này uống rượu ngắm cúc để quên cảnh náo nhiệt, trầm luân trong đời, cho nên hoa cúc cũng là biểu tượng của bậc quân tử ẩn dật lánh đời vậy. Đào Tiềm từng thốt rằng: «Hoa cúc mùa thu có sắc đẹp, phơi lộ nét anh tú, khiến ta quên tình buồn, lánh xa tình đời.» 秋菊有佳色裛露掇其英泛此忘憂物遠我遺世情 (Thu cúc hữu giai sắc, ấp lộ xuyết kỳ anh, phiếm thử vong ưu vật, viễn ngã di thế tình).

Người giàu có ưa chuộng màu sắc lộng lẫy rực rỡ của mẫu đơn. Mẫu đơn là loài hoa quý hiếm, chỉ có bậc quyền quý đài các mới chơi hoa này. Cho nên mẫu đơn là biểu tượng của sự giàu sang phú quý.

Hoa sen là cốt cách của bậc quân tử. Đẹp và ngát hương, gần bùn mà chẳng tanh bùn. Dù cuộc đời ô trọc, nhân tình ấm lạnh, bậc quân tử vẫn giữ được tiết tháo của mình, thơm tho và tinh khiết như đóa sen kia.

Tranh của Từ Vị (đời Minh)

Cổ nhân gọi tùng, trúc, mai là ba người bạn mùa lạnh (tuế hàn tam hữu 歲寒三友), bởi vì ba loại cây này dù mùa sương tuyết vẫn tươi tốt trong khi những loại cây khác hầu như cằn cỗi héo hon. Tính chịu lạnh của tùng, trúc, mai tượng trưng đức tính nhẫn nại của người quân tử, tự cường mãi không thôi, luôn trau giồi tài đức trước nghịch cảnh cuộc đời.

Mai, lan, cúc, trúc thường được gộp chung thành một cụm, xem như biểu tượng của bậc quân tử, nên cũng được gọi là «tứ quân tử» 四君子(bốn người quân tử). Mai nở vào mùa đông và xuân, chịu đựng lạnh lẽo. Lan kiều diễm mảnh mai, hương thơm thâm trầm. Trúc ngay thẳng, vô tâm, đầy tiết tháo. Cúc trải sương giá mà chẳng héo hon, có ý chí thách đố thiên nhiên. Hơn hai ngàn năm trước, thi nhân Khuất Nguyên thậm chí còn so sánh hoa lan với mỹ nhân rằng: «Thu lan ơi mườn mượt, cọng tía cùng lá xanh. Đầy nhà toàn người đẹp, riêng với ta đưa tình.» 秋蘭兮清清綠葉兮紫莖滿堂兮美人忽獨與余兮且成 (Thu lan hề thanh thanh, lục diệp hề tử hanh. Mãn đường hề mỹ nhân, hốt độc dữ dư hề thả thành). Hoa cúc trác việt siêu phàm, là biểu tượng của bậc quân tử ở ẩn mà trên đây đã đề cập. Đời Tống có ẩn sĩ Lâm Bô 林逋 yêu hoa mai đến độ không cần có vợ con, chỉ chuyên tâm trồng hoa mai và nuôi hạc. Người đời tặng cho ông câu mai thê hạc tử 梅妻鶴子 (hoa mai là vợ, chim hạc là con). Yêu trúc có thể kể đến Tô Thức. Ông nói: «Thà ăn không có thịt chứ không thể ở thiếu trúc.» 寧可食無肉不可居無竹 (Ninh khả thực vô nhục, bất khả cư vô trúc).

Không chỉ hoa, mà quả cũng mang ý nghĩa biểu tượng nữa. Chẳng hạn quả đào tượng trưng sự trường thọ; thí dụ tranh «Đào hiến thiên xuân» 桃獻千春 (đào dâng nghìn tuổi xuân) vẽ ông lão cầm quả đào. Quả lựu tượng trưng cho sự đông con cái; thí dụ tranh «Lựu khai bách tử» 榴開百子(quả lựu mở sinh trăm con) vẽ ông lão cầm quả lựu bóc dở, cho trông thấy hạt. Quả phật thủ tượng trưng cho phúc; thí dụ tranh vẽ quả phật thủ (phúc) với quả đào (thọ) và quả lựu (đông con) là ngụ ý: đa phúc, đa thọ, đa nam tử. Quả quít tượng trưng sự tốt lành (cát). Ngay trong đời sống hằng ngày người ta cũng thích biếu xén nhau quít.

Hoa thường được vẽ chung với điểu. Chim hạc tượng trưng cho sự trường thọ. Người Trung Quốc tin rằng hạc sống đến ngàn năm (hạc thọ thiên tuế 鶴壽千歲). Hạc thường được vẽ chung với cây tùng (cũng ngụ ý trường thọ), nên tranh «Tùng hạc diên niên» 松鶴延年 (tùng và hạc sống lâu) được dùng để chúc thọ.

Thi nhân cho rằng chim én là loài chim nhỏ có cảm tình, mùa thu và mùa đông bay đi tìm cái ấm áp của miền nhiệt đới và mùa xuân quay về tổ cũ. «Xuân phong yến hỉ» 春風燕喜 (chim yến vui trong gió xuân) mô tả một đôi én về tổ trong cành liễu xanh phất phơ hay cành đào hồng thắm. Một bức tranh với đôi én hoặc một bức tranh với cặp hồng nhạn (vịt trời) hay đôi uyên ương bơi lội trong ao sen chính là biểu tượng tình nghĩa vợ chồng, gia đình khang lạc.

SONG THỌ – tranh Tề Bạch Thạch

Tranh «Thập toàn báo hỉ» 十全報喜 vẽ mười con chim khách đậu trên phiến đá và trên cây tùng hót líu lo báo tin mừng (chim khách được tin tưởng là báo điềm lành nên tục gọi nó là «hỉ thước» 喜鵲), tranh để chúc sự nghiệp thành công.

Dưới cội mai vàng (biểu tượng của phúc) là đôi chim cun cút hoặc một đàn gà con cùng gà trống gà mái cũng là biểu tượng của ân nghĩa tào khang, quan hệ nhân luân. Tranh phụ đề «ân nghĩa tại sinh tiền» 恩義在生前 (ân nghĩa đối với nhau lúc còn sống) thật là cảm động và thâm trầm biết bao! Con gà mái với bầy con tượng trưng cho gia đình đông đúc, đầm ấm.

Con công tượng trưng cho sự bình an thịnh vượng. Chim phượng (thường gọi gộp là phượng hoàng, thực ra phượng là con trống, hoàng là con mái) là linh điểu, tương truyền chim phượng xuất hiện là thánh nhân ra đời. Nhưng chim loan và chim phượng thì tượng trưng duyên nợ vợ chồng. Tranh «loan phượng hoà minh» 鸞鳳和鳴 (chim loan và chim phượng hoà chung tiếng hót) ngụ ý sự hoà thuận êm ấm của vợ chồng.

Một số động vật cũng có ý nghĩa biểu tượng. Rồng (long ), một con vật huyền thoại, là biểu tượng của vương quyền. Kỳ lân (kỳ là con đực, lân là con cái) tượng trưng nhân ái và thái bình. Con rùa (quy ) cũng là thần vật, tương truyền nó sống tới ngàn năm, nên tượng trưng sự trường thọ.

Ngựa là một chủ đề quen thuộc. Dân gian cho rằng ngựa có đức tính trinh tiết, ý thức rõ quan hệ truyền chủng, không vi phạm cái mà luân lý loài người gọi là loạn luân. Như Dịch Kinh từ đời Chu đã ca ngợi là «Tẫn mã chi trinh» 牝馬之貞 (đức trinh tiết của ngựa cái). Ngựa còn có đức tính trung thành, một đức tính mà Nho gia rất coi trọng trong các mối quan hệ xã hội. Tuy nhiên, trong thực tế, ngựa từ thời xa xưa có giá trị rất cao. Trong chiến tranh ở Trung Quốc cổ đại, ngựa giữ vai trò rất quan trọng có thể gọi là nền tảng của sức mạnh quân sự. Các kỵ binh du mục trên lưng các chiến mã thần tốc và dũng mãnh luôn là mối kinh hoàng cho binh quân của Trung Quốc. Trong giao thông vận tải thì ngựa là phương tiện nhanh chóng và hữu hiệu. Từ đời Thương người ta đã biết đánh xe ngựa tới nơi xa xôi để buôn bán. Ngoài giá trị quan trọng của ngựa trong vận tải và quân sự, người ta còn tìm thấy giá trị y học của ngựa, được mô tả trong Bản Thảo Cương Mục (xuất bản 1596) nữa. Cứ xem đời nay mà xét, ngày nay người ta xem những xe hơi hiện đại sang trọng là biểu tượng của giàu có thì ngày xưa ngựa chính là biểu tượng đó. Nói chung, ngựa xuất hiện trong tranh Trung Quốc như là biểu tượng của sự mau chóng và thành đạt. Thí dụ bức tranh có chủ đề phổ biến nhất là «mã đáo thành công» 馬到成功 thể hiện qua một bầy ngựa phi nước đại gió bụi mịt mù. Nguyên ý câu này là «Kỳ khai đắc thắng, mã đáo thành công» 旗開得勝馬到成功 (Cờ phất [làm hiệu thì] chiến thắng, ngựa quay về [báo tin] thành công). Ngày xưa khi xuất binh phải phất cờ hiệu, mà cờ đã phất rồi thì phải chiến thắng; tướng soái khi lấy đầu tướng giặc, chiến mã quay về tất báo tin thành công. Ý nghĩa câu «mã đáo thành công» ngày nay chỉ còn tượng trưng là tốc chiến tốc thắng. Và một bức tranh «mã đáo thành công» làm quà khai trương cho một cửa hiệu chỉ đơn giản tương tự như là «khai trương hồng phát» (mở cửa tiệm thì phát đạt lớn).

Có những vật tưởng như bình thường nhưng cũng có ý nghĩa đặc biệt, thí dụ con cóc tía (thiềm thừ 蟾蜍) tượng trưng cho sự giàu có, can đảm, và cái gì quý báu, khó kiếm ra được. Con bướm (hồ điệp 蝴蝶) tượng trưng sự trùng điệp. Con mèo tượng trưng sống lâu. Con cá chép (lý ngư 鯉魚, cá hoá long, cá vượt vũ môn) tượng trưng thi đỗ, v.v…

Rồi sự kết hợp nhiều thứ khác nhau cũng có ngụ ý tổng hợp. Thí dụ hoa kết hợp với điểu, thảo trùng, cá, đá (tượng trưng sự vững chắc) và các khí vật khác (thí dụ cái bình hoa, ngụ ý an bình) làm tăng thêm thi ý cho tranh, thường đó là lời chúc nguyện cát tường.

Mẫu đơn phối hợp với cá lội là biểu tượng «Phú quý hữu dư» 富貴有餘 (phú quý dư dật) là lời chúc nguyện tốt đẹp vào ngày đầu năm. Mẫu đơn vẽ chung với khổng tước (chim công) mang tên «Khổng tước khai bình» 孔雀開屏 là tranh chúc mừng khai trương cửa tiệm. Hoa xuân điểm thêm vài cánh bướm, tạo sinh động cho tranh. Bướm ngụ ý là trùng điệp. Tranh mẫu đơn điểm thêm cánh bướm ngụ ý phú quý trùng điệp 富貴重疊. Hoặc trên cánh hoa vẽ con dế, cho ta hình dung tiếng thu đang về rồi với tiếng nhạc để râm ran đâu đây.

Như trên đã nói, thông qua ngôn ngữ (nhất là từ ngữ đồng âm hay cận âm) người ta sẽ liên tưởng hình vẽ này đến một sự vật nào đó với ý nghĩa biểu tượng nhất định trong tâm thức chung của mọi người.

– Bông hoa, chữ Hán là hoa phát âm [huā] gần giống chữ hoa (vinh hoa) [huá].

– Hoa sen, chữ Hán là liên phát âm [lián] giống như chữ liên (liên tục) [lián]; hoặc chữ Hán là phát âm [hé] giống như chữ hoà (hoà hợp) [hé].

– Quả thị hay cành thị, chữ Hán là thị phát âm [shì] giống như chữ sự (sự việc) [shì].

– Quả lựu, chữ Hán là lựu phát âm [liú] giống như chữ lưu (trôi chảy, lưu truyền) [liú].

– Cây phong, chữ Hán là phong phát âm [fēng] giống như chữ phong (ban phong) [fēng].

– Cây ngô đồng, chữ Hán là đồng phát âm [tóng] giống như chữ đồng (cùng với) [tóng].

– Cành mai, chữ Hán là mai phát âm [méi] gần giống chữ mỗi (mỗi thứ, mỗi người) [měi].

– Cành trúc, chữ Hán là trúc phát âm [zhú] gần giống chữ chúc (chúc tụng) [zhù].

– Con gà, chữ Hán là phát âm [ji] gần như chữ cát (tốt lành) [jí].

– Con cá, chữ Hán là ngư phát âm [yú] giống như chữ (dư thừa, dư dật) [yú].

– Con dơi, chữ Hán là bức phát âm [fú] giống như chữ phúc (hạnh phúc) [fú]. Vẽ 5 con dơi tức là ngũ bức 五蝠 , phát âm [wǔ fú] giống như ngũ phúc 五福 . Con dơi vẽ lộn ngược tức là đảo bức , phát âm [dào fú] giống như đáo phúc 到福 (phúc đến).

– Con mèo, chữ Hán là miêu phát âm [máo] gần giống chữ mạo (già 80 tuổi) [mào].

– Con bướm, chữ Hán là điệp phát âm [dié] giống như chữ điệt (già 70 tuổi) [dié] và chữ điệp (trùng điệp) [dié].

– Con hươu, con nai, chữ Hán là lộc 鹿 phát âm [lù] giống như chữ lộc (bổng lộc) [lù].

– Con vượn, con khỉ, chữ Hán là hầu phát âm [hóu] giống như chữ hầu (tước hầu) [hóu].

– Cái quạt, chữ Hán là phiến phát âm [shàn] giống như chữ thiện (tốt lành) [shàn].

– Ống sáo, chữ Hán là sinh phát âm [shēng] giống như chữ sinh (sinh nở) [shēng] và chữ thăng (bay lên) [sheng].

– Cái lục bình, chữ Hán là bình phát âm [píng] giống như chữ bình (bình an) [píng].

– Cái mũ, cái mão, chữ Hán là quan phát âm [guān] giống như chữ quan (ông quan) [guan].

– Ngọc như ý đúng ý nghĩa là như ý 如意 [rú yì].

– Số 9, chữ Hán là cửu phát âm [jiǔ] giống như chữ cửu (lâu dài) [jiǔ].

– v.v…

Phối hợp nhiều thứ với nhau, tranh vẽ mang ý nghĩa biểu tượng tổng hợp. Thí dụ như:

1. Tranh vẽ quả đào với 5 con dơi ngụ ý Ngũ Phúc Lâm Môn 五福臨門. Ngũ Phúc là: phú (giàu), thọ (sống lâu), khang ninh 康寧 (khỏe mạnh), du hiếu đức 攸好德 (yêu nhân đức), khảo chung mệnh 考終命 (chết êm ái).

2. Tranh vẽ quả phật thủ với con bướm ngụ ý sống lâu đến 70-80 tuổi, vì quả phật thủ tượng trưng cho thọ hay phúc, con bướm (điệp) ngụ ý già 70 tuổi (điệt ) hay trùng điệp (điệp ), tức là phúc thọ trùng điệp 福壽重疊.

3. Tranh vẽ quả phật thủ (phúc) với quả đào (thọ) và quả lựu (đông con) ngụ ý tam đa 三多: đa phúc 多福 (nhiều phúc), đa thọ 多壽 (rất thọ), đa nam tử 多男子(nhiều con trai).

4. Tranh vẽ quả phật thủ, quả đào, quả lựu với 9 miếng ngọc như ý ngụ ý «tam đa cửu như» 三多九如 nghĩa là chúc cho phúc thọ, con cháu đầy đàn, bền vững.

5. Tranh vẽ quả lựu đã bóc vỏ một phần để lộ hạt ra ngụ ý «lựu khai bách tử» 榴開百子 (lựu mở ra sinh trăm con).

6. Tranh vẽ quả lựu với 5 cậu bé con ngụ ý mong cho con cái sau này đều hiển đạt như 5 con của ông Đậu Yên Sơn đời Tống.

7. Tranh vẽ quả lựu (ngụ ý lưu truyền ) với cái mũ (ngụ ý tước quan ), cái đai lưng (đái ), cái thuyền (thuyền , đọc giống truyền ) ngụ ý mong cho «Quan đái truyền lưu»官帶傳流 (đai lưng của quan được lưu truyền, tức là được phong quan tước nhiều thế hệ trong gia tộc).

8. Tranh vẽ hai quả thị (ngụ ý sự việc) với ngọc như ý là mong «Sự sự như ý» 事事如意 (vạn sự như ý).

9. Tranh vẽ cây ngô đồng (đồng âm với đồng : cùng với) với con hươu (lộc 鹿 , đồng âm với lộc : bổng lộc) và chim hạc (trường thọ) là ngụ ý «Lộc thọ đồng lộc hạc» 禄壽同鹿鶴 (được bổng lộc và sống lâu như hươu, hạc).

10. Tranh vẽ chim hỉ thước 喜鵲 (vui vẻ) đậu cây ngô đồng (đồng âm với đồng : cùng với) là ngụ ý «đồng hỉ» 同喜 (mọi người cùng vui vẻ).

11. Tranh vẽ đứa trẻ cỡi trên lưng con kỳ lân tay cầm bông sen (liên ) và ống sáo (sinh ) là ngụ ý «Liên sinh quý tử» 連生貴子 (liên tiếp sinh quý tử).

12. Tranh vẽ 4 đứa trẻ: đứa cầm cành táo (tảo , đồng âm với tảo : sớm), đứa cầm ống sáo (sinh ), đứa cầm cái ấn quan văn, đứa cầm cái kích quan võ là ngụ ý mong: sớm sinh con cái sau này thành quan văn hay quan võ.

13. Tranh vẽ đứa trẻ ăn mặc sang trọng (phú ), cổ đeo cái khánh (đồng âm với khánh , hiểu là may mắn hạnh phúc) đang ngắm bầy cá vàng (ngư , hiểu là dư thừa) là ngụ ý mong: giàu có, đông con, hạnh phúc có thừa.

14. Tranh vẽ chim hỉ thước 喜鵲 đậu cành mai (đồng âm với mỗi : mọi người) cành trúc (đồng âm với chúc : chúc mừng) là ngụ ý mong cho mọi người đều vui vẻ.

15. Tranh vẽ trúc mai 竹梅 ngụ ý mọi người may mắn.

16. Tranh vẽ mai, trúc với con mèo và con bướm là ngụ ý mong mọi người sống lâu đến 70-80 tuổi.

17. Tranh vẽ mẫu đơn 牡丹 (phú quý) với con gà ( đồng âm với cát : tốt lành) ngụ ý «phú quý cát tường» 富貴吉祥.

18. Tranh vẽ con khỉ (hầu ) trèo cây phong (phong ) có cái ấn cột vào cành cây ngụ ý «ấn phong hầu» 印封侯, tức là được thăng quan tiến chức nói chung.

v.v…

Trên đây là một số minh hoạ tiêu biểu. Tóm lại, ý nghĩa biểu tượng của loại tranh này cho thấy ba chủ ý của tác giả: 1- gởi gấm ý chí; 2- ước nguyện mọi tốt lành cho bản thân; 3- và cầu chúc hạnh phúc cho người khác. Với chủ ý thứ ba, các bức tranh này thường được người ta làm quà tặng nhau vào những dịp mừng thọ hay những dịp đặc biệt như ngày đầu năm, mà những lời chúc nguyện rồi sẽ như chồi non lộc mới nảy nở thành những đoá hoa rực rỡ tươi thắm trong tiết xuân sang.●

Hướng dẫn thêu tranh chữ thập bằng video và hình ảnh

Sau đây là bài viết, hình ảnh, và video hướng dẫn cụ thể cho những bạn mới tiếp xúc với tranh thêu. Thêu tranh chữ thập kỳ thực rất đơn giản, quan trọng là niềm yêu thích và sự kiên nhẫn 🙂

Cách thêu dấu chữ thập (video này dễ nhìn):

Video cơ bản, cách chọn chỉ (tiếng Việt, nhìn không rõ lắm):


Video các kỹ thuật nâng cao haft-cross-stitch back-stitch 🙂

————————

Hướng dẫn thêu tranh chữ thập bằng hình ảnh
Vải aida có lỗ to, sắp đều như một ma trận.

hướng dẫn thêu chữ thập

 

Cách thêu tranh chữ thập
Thường thì chỉ thêu gồm 6 sợi nhỏ bó lại thành một chỉ, ta phải rút từng sợi nhỏ để thêu (thường sẽ cần nhiều hơn 1 sợi để luồn vào kim thêu). Hãy dùng 2 ngón tay, cầm vào đầu 1 sợi chỉ và rút thẳng tay, sợi chỉ sẽ được rút ra mà không bị rối.

 

Mỗi loại vải thì có lỗ to nhỏ khác nhau, cần số sợi khác nhau, riêng vải aida 11ct cần thêu 3 sợi chỉ (vải 14ct dùng 2 sợi). Do vậy bạn cần tìm hiểu trước, tốt nhất là gọi cho chủ Shop để được hướng dẫn.

Khi thêu không nên rút chỉ quá mạnh tay mà làm méo các ô. Nhưng cũng không nên nhẹ quá vì sẽ làm các chữ thập không chắc chắn, lại tốn chỉ (càng chùng càng tốn chỉ).

Giả dụ đây là mặt vải, và các đỉnh hình vuông là các lỗ. Các con số sẽ là vị trí đưa kim theo thứ tự:

hướng dẫn thêu chữ thập 1

Sau đó, đâm kim lên ở lỗ số 3, rồi xuống ở 4. Vậy là có một chữ thập.

hướng dẫn thêu chữ thập 2

Tuy nhiên cách thêu trên chỉ là…cho một nút chữ thập. Khi thêu một bức tranh thì không nên thêu từng nút vì sẽ làm rối và chậm. Ta có thể thêu hàng loạt theo dấu huyền hoặc sắc trước, sau đó thêu nốt dấu còn lại:

hướng dẫn thêu chữ thập 3

Hoặc

hướng dẫn thêu chữ thập 4

Chú ý vị trí lần lượt đưa kim của cách thêu theo cột sau, thường dùng khi thêu viền các bức tranh nhỏ:

hướng dẫn thêu chữ thập 5

Hãy chọn một dấu để thêu trước, tạo thói quen sẽ khiến bạn thêu nhanh hơn.
————————-Thắt nút, cột chỉ khi bắt đầu và kết thúc một lượt thêu:Không nên thắt nút to làm cộm vải, xấu tranh. Có thể luồn chỉ qua các đường thêu ở mặt trái khoảng 2 lần là khá chắc chắn. Hãy nhìn cây kim sau, phần trên là mặt tranh, phần dưới là mặt trái của tranh, cây kim luồn chỉ qua để cố định thay vì thắt nút:

hướng dẫn thêu chữ thập 6

hướng dẫn thêu chữ thập 7

Như vậy đã cố định được chỉ khi bắt đầu mũi đầu tiên.
Khi kết thúc một lượt chỉ, có thể luồn vào các đường chỉ ở mặt trái 2 lần cho chắc chắn. Không cần buộc.

hướng dẫn thêu chữ thập 10

Có những trường hợp có ô 1/4 hay 3/ stitch (1/4 hay 3/4 của chữ thập):

hướng dẫn thêu chữ thập 12

Với dấu 1/4 stitch, đi kim lên từ lỗ 1, và đi xuống ngay tại tâm của chữ X như hình trên.

Với dấu 3/4 stitch, đi xong một dấu sắc hoặc huyền, đi nốt dầu còn lại nhưng đi xuống giữa tâm chữ X như hình trên thì đâm kim xuống.

—————————-

Cách tính để cắt vải trắng khi biết số ô thêu
Vải 14ct nghĩa là trong độ dài 1 inch (2,54cm) sẽ có 14 ô (stitch)
Vải 11ct nghĩa là trong độ dài 1 inch có 11 stitch

Tương tự như vậy với aida 28ct, 18ct, 16ct, 9ct, …

Cách tính vải như sau: chiều dài vải = số ô x 2,54/loại aida + 10 (cm)
Ví dụ: thêu 1 bức trên aida 11ct
chiều ngang là 110 ô (stitch) -> = 100×2.54/11+10  (cm)
chiều dọc là 55 ô (stitch) -> = 55×2.54/11+10   (cm)

—————————

Cách thêu hạt cườm

Thêu hạt cườm so với thêu chữ thập thì lung linh hơn, nhưng cũng dễ hơn vì chỉ có duy nhất một mũi thêu, lại ko phải lo lắng đến mặt sau. Tuy vậy, kit cườm không phải lúc nào cũng có sẵn, hoặc có thể rất đắt, nhiều khi chị em mình thích tự soạn vải soạn cườm để thêu, hoặc có những mẫu thêu chữ thập mà ai đó muốn đổi sang thêu cườm cho đặc biệt , thì đây là một số điều nên lưu ý khi thêu cườm:

– Loại vải:  Nhất định phải là vải 11ct  (hoặc 22ct thêu 2 ô một).

– Yêu cầu kim: Kim chuyên dùng cho đính cườm là loại nhỏ, dài, thân rất mảnh, lỗ rất nhỏ để xuyên được qua hạt cườm, mũi rất nhọn.

– Những yêu cầu về chỉ:

+ Cách xỏ chỉ (thêu 2 sợi): nếu xỏ 2 sợi chỉ thông thường vừa rất khó qua lỗ kim (siêu nhỏ), đồng thời đoạn chỉ đầu tiên bị chập đôi thành 4 sợi rất khó đưa hạt cườm qua, vì vậy nên dùng “loop method” là cách xỏ 1 sợi chỉ qua kim rồi chập đôi thành 2 sợi (xem hình minh họa dưới).

+ Số sợi chỉ: có thể thêu 1 hoặc 2 sợi tùy ý, nhưng tốt thì nên thêu 2 sợi, lý do là lỡ trong quá trình vận chuyển hay bảo quản mà bị đứt một sợi (dù khả năng này hiếm xảy ra) thì không như thêu chữ thập thông thường, các hạt cườm sẽ thi nhau rơi tá lả. Thêu 2 sợi ít nhất đảm bảo nếu 1 sợi đứt thì vẫn còn 1 sợi.

+ Màu chỉ: trong sách của bà Donna Kooler hướng dẫn là dùng chỉ cùng màu với cườm, và khi màu cườm sẫm thì chọn màu chỉ cùng tone nhưng nhạt hơn, nhưng từ kit và kinh nghiệm thêu thì  thấy tốt nhất là dùng chỉ cùng màu với vải (ví dụ vải trắng chỉ trắng, vải ngà chỉ ngà…), vì ngoài việc màu chỉ chìm vào màu vải thì còn giúp ta tiết kiệm rất nhiều thời gian đổi chỉ. Ngoài ra chỉ cần dùng chỉ khâu/may thông thường thay vì dùng chỉ DMC, thậm chí còn dai hơn.

– Yêu cầu về cườm: (seed beads- cườm hạt nhỏ)

+ Màu: Hàng của VN có màu sắc cũng phong phú, vì là màu nhuộm nên mỗi đợt hoặc mỗi hàng bán có thể lại khác nhau một chút, vì vậy các bạn khi dùng màu nào cần chắc chắn có đủ trước khi thêu kẻo giữa chừng thiếu lại không mua được màu y .Như vậy tốt thấy với màu da, màu má hồng nên chọn màu kỹ hơn, còn lại đều mang tính tương đối, không cần thiết phải so với code DMC làm gì. Một lưu ý nữa là nên tránh (nếu tự thiết kế) các màu cườm có sắc độ giống nhau ở cạnh nhau nhìn sẽ không nổi (vì không có backstitch như thêu chữ thập), ví dụ như đính cườm hoa màu hồng nhạt trên áo cườm màu xanh nhạt sẽ không đẹp.

+ Chất lượng cườm: Thấy bảo cườm Nhật và Czech là đẹp nhất. Còn so với cườm trong kit PINN thì độ bóng bẩy nhẵn nhụi có vẻ kém hơn một chút, nhưng chất lượng nói chung khá tương đương vì cườm PINN cũng có màu hạt to, màu hạt nhỏ và cùng một màu cũng có hạt to hạt nhỏ y như cườm của ta, vẫn phải vừa ngồi thêu vừa nhặt bỏ. Cườm này được tạo ra như một cái ống nhỏ dài đường kính 1-2mm được cắt ra thành các khúc ngắn cũng 1-2mm và đem “nhúng” vào “sơn” các màu khác nhau. Chất lượng phụ thuộc vào loại ống (hạt nhựa mới rẻ, hạt thủy tinh đắt hơn nhiều), kỹ thuật cắt (đầu bẹt, đầu tròn), và cái khác nhau rõ nhất chính là độ dày, bóng, mịn, của lớp “sơn” bên ngoài.

 Thuận buồm xuôi gió

———————-

Mẹo nhỏ với thêu backstitch

Backstitch càng ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong loại hình tranh thêu chữ thập, đặc biệt là với người thêu trẻ tuổi thích sự trẻ trung và “tốc độ”.

Đa phần mọi người yêu thêu tranh chữ thập rất ngại thêu backstitch, có lẽ vì sự nhàm chán về màu sắc, nhưng cũng có một số người rất thích backstitch vì đi backstitch tới đâu thấy bức tranh nổi lên tới đó (với các mẫu cần nhiều backstitch). Backstitch của các hãng thiết kế khác nhau lại mang phong cách đặc trưng khác nhau. Ví dụ mẫu Dimensions mà thiếu đi backstitch thì sẽ trở thành các mảng màu không rõ nét. Ngược lại, khủng long Golden Kite tinh tế với sự chuyển đổi màu sắc từ từ như thật nên không cần đến backstitch. Nhiều mẫu Riolis của Nga thì lại tài tình ở chỗ có những mẫu dưới 20 màu chỉ, không cần backstitch, mà khi thêu lên đường nét nào ra đường nét đó. Mẫu của SODA cũng rất đặc biệt, mất nhiều công sức mới tạo được các đường backstitch khi đứt, khi rời, chỉ chấm phẩy lác đác vài chỗ, nhìn qua như vẽ hoạt hình, nhưng thực ra lại là những điểm nhấn rất đúng chỗ.

Backstitch trước kia là các đường kẻ thẳng theo chiều dọc hoặc ngang, nhìn hơi cứng. Thời nay nó là các đường thẳng, đường chéo, đường longstitch (kéo dài, có thể chạy qua cả chục ô chữ thập) rất uyển chuyển, trừ một số mẫu thiết kế có chủ ý chỉ ngang và dọc như mẫu PINN .

Nhiều bạn rất giỏi tự chế chart thêu, vậy tại sao ko thử chế luôn back-stitch, biến những đường dọc ngang cứng quèo kia thành các đường chéo (nhiều đường chéo có thể sẽ tạo ra đường tròn) khiến bức tranh mềm mại uyển chuyển hơn, hình vẽ nổi bật rõ ràng hơn, và thực ra quá trình backstitch tiết kiệm cả thời gian lẫn chỉ đi nhiều…

—————

Tự kẻ vẽ chữ cái, thêu chữ tự thiết kế trên vải Aida:

Bạn hoàn toàn có thể tự kẻ vẽ các chữ trên vải để thêu. Hoặc sử dụng phần mềm tạo chart, convert các chữ theo phong cách bạn muốn thành một mẫu để thêu theo.

Tranh thêu chữ thập 3D là gì, 5D là gì?

Thật khôi hài cho những khái niệm “rất mơ hồ” này. Nó như đánh lừa thiên hạ vậy. Thực ra vẫn là 2D hết nếu D là đây là chiều không gian.

Tranh thêu 3D thực chất là loại tranh mà có một phần in không phai, in đúng màu tranh, tức là phần đó không phải thêu nữa. Còn một phần sẽ in màu để đánh dấu chỉ, khi giặt sẽ hết màu, và ta phải thêu phần này. Tranh thêu 3D là sự kết hợp giữa tranh in lên vải, và tranh thêu chữ thập.

Phần lớn người thêu tranh không thích loại tranh này, lý do là không được thêu. Chúng ta yêu việc thêu hơn là một bức tranh. Nếu không chỉ cần in tranh ra giấy và treo lên tường là đẹp rồi!

Từ 5D trở đi thì… tôi nghĩ là next (bỏ qua). Vì số càng to thì thêu càng ít, mà thực chất cũng chỉ là hình 2D. Thôi thì in cái hình ra giấy, đóng khung vào mà treo cho rẻ, lại đẹp, thích thay lúc nào cũng được. Ở vị trí một tín đồ thêu, thậm chí kinh doanh mặt hàng này, tôi cũng chẳng ưa gì loại tranh kiểu 5D với chả 7D. Ngay cả 3D đã hơi chuối rồi. Hãy nhớ, chúng ta thêu vì đam mê!

Đối với những ai thích có tranh thêu để treo mà không có thời gian thêu, cũng nên thuê người thêu tranh loại 2D. Vì giá trị của nó là hoàn toàn khác biệt. Hơn hẳn loại 3D trở đi.